Hầu hết các răng dư đều ở phía trước răng hàm trên. Chúng được phân loại theo hình thái và vị trí. Sự hiện diện của chúng có thể làm phát sinh một loạt các vấn đề lâm sàng. Tuy đây là bệnh lý phức tạp về răng miệng và cũng tương đối phổ biến nhưng có rất ít tài liệu về vấn đề này. Bài viết này nhằm cung cấp cho độc giả cái nhìn tổng quan về các vấn đề lâm sàng liên quan đến răng dư: chẩn đoán, phân loại và quản lý thực thể lâm sàng phức tạp này.

Răng dư có thể được phát hiện tình cờ khi đi khám răng hoặc chụp X-quang hoặc khi răng cửa giữa bị chèn ép. Chúng cũng có thể được phát hiện khi thay răng tự nhiên. Răng dư phổ biến nhất xuất hiện ở kẻ răng giữa hàm trên được gọi là mesiodens hay còn gọi là răng dư kẻ  giữa. Điều trị tùy thuộc vào loại và vị trí của răng dư và ảnh hưởng của nó trên răng lân cận.

Định nghĩa:

Răng dư là răng mọc thêm, ngoài những răng bình thường (Ở trẻ em, hệ răng sữa gồm 10 răng hàm trên và 10 răng hàm dưới - Hình 1. Ở người trưởng thành hệ răng gồm 32 chiếc, 16 răng hàm trên và 16 răng hàm dưới - Hình 2) và có thể được tìm thấy hầu như ở bất kỳ vị trí nào trên khung hàm.

alt

alt

Hình 1: Sơ đồ bộ răng sữa

 

alt

Hình 2: Sơ đồ bộ răng vĩnh viễn

Nguyên nhân:

Nguyên nhân răng dư chưa được hiểu rõ hoàn toàn. Đang tồn tại nhiều lý thuyết khác nhau cho các loại răng dư khác nhau. Một lý thuyết cho rằng răng dư được tạo ra như là kết quả của sự phân đôi của mầm răng. Lý thuyết khác, được sử dụng nhiều trong các tài liệu y học, là lý thuyết hiếu động thái quá, thuyết này cho rằng răng dư được hình thành là kết quả của sự hiếu động thái quá cục bộ, độc lập, mạnh mẽ của tính di truyền ngà răng. Tính di truyền cũng có thể đóng một vai trò quan trọng trong sự xuất hiện bất thường này, như răng dư phổ biến hơn ở những trẻ em có người thân bị ảnh hưởng so với dân số chung. Tuy nhiên, sự bất thường không theo một mô hình đơn giản của Mendel.

Tỷ lệ:

Trong một cuộc khảo sát 2.000 học sinh, Brook đã tìm thấy răng dư đã có mặt ở 0,8% Bộ răng sữa và 2,1% ở bộ răng vĩnh viễn.

alt

Hình 3: Phim toàn cảnh bệnh nhân đa răng dư

Răng dư có thể xảy ra một hoặc nhiều răng, một phía hoặc hai phía, đã nhú ra hoặc còn ở mọc ngầm và ở một hoặc cả hai hàm. Đa răng dư là hiếm gặp ở cá nhân không có các bệnh lý hoặc hội chứng liên quan. Những điều kiện thường gặp có liên quan với một tỷ lệ lớn của răng dư bao gồm hở môi và vòm miệng, loạn sản cleidocranial* (Hình 3), và hội chứng Gardner. Răng dư liên quan đến kết quả hở môi và vòm miệng từ phân chia của ngà răng trong quá trình hình thành hàm ếch. Tần số xuất hiện răng dư ở bộ răng vĩnh viễn trong khu vực hàm ếch ở trẻ em hở môi hoặc vòm miệng riêng lẻ hoặc cả hai đã được thống kê là 22,2%. Tần số xuất hiện răng dư ở những bệnh nhân bị loạn sản cleidocranial dao động từ 22% ở khu vực răng cửa hàm trên đến 5% ở khu vực răng hàm. Mặc dù giới tính không quan trọng trong phân bổ răng dư ở bộ răng sữa, nhưng ở bộ răng vĩnh viễn, nam giới bị ảnh hưởng gấp hai lần so với ở phụ nữ.

Phân loại

Răng dư được phân loại theo hình thái và vị trí. Ở bộ răng sữa, hình thái răng dư thường giống với hình dạng răng thông thường hoặc hình nón. Ở bộ răng vĩnh viễn, hình thái răng dư đa dạng hơn. Có bốn loại hình thái răng dư ở bộ răng vĩnh viễn là:

  • Dạng Hình nón
  • Dạng củ (Tuberculate)
  • Rạng răng phụ
  • Dạng U xơ răng (Odontome).

Dạng hình nón

Răng hình nón nhỏ là loại răng dư phổ biến nhất được tìm thấy trong bộ răng vĩnh viễn. Nó phát triển với sự hình thành chân răng phía trước hoặc ở cung răng cửa vĩnh viễn và thường là một mesiodens. Đôi khi răng dư có thể được tìm thấy ở phía cao và đảo ngược ở vòm miệng (Hình 4) hoặc vị trí nằm ngang. Tuy nhiên, trong hầu hết trường hợp, trục dọc thân răng có hướng bình thường. Răng dư hình nón có thể làm xoay hoặc dịch chuyển răng cửa vĩnh viễn, nhưng hiếm khi làm chậm mọc răng.

alt

Hình 4: X-quang cho thấy mesiodens đảo ngược và hình nón

Dạng củ - Tuberculate

Các loại răng dư Tuberculate ( tạm dịch là dạng củ) có nhiều hơn một chỏm hoặc củ. Hình dạng của nó thường là hình ống và được bao bọc trong ống. Sự hình thành chân răng chậm so với các răng cửa vĩnh viễn. Răng dư Tuberculate thường theo từng cặp và thường nằm trên cung hàm của các răng cửa giữa. Nó hiếm khi nhú lên và thường liên quan đến tình trạng chậm mọc răng cửa (Hình 5 và 6).

alt

Hình 5: Cặp răng dư tuberculate liên quan đến rối loạn mọc răng

 

alt

Hình 6: Rối loạn mọc răng của răng  cửa giữa hàm trên liên quan đến răng dư tuberculate được minh họa ở hình 5

Dạng răng phụ

Răng dư dạng răng phụ liên quan đến sự nhân bản của răng trong nhóm bình thường và được tìm thấy ở cuối của nhóm răng (Hình 7). Răng phụ xuất hiện phổ biến nhất ở bộ răng vĩnh viễn là răng cửa bên hàm trên, nhưng răng trước và răng hàm cũng có thể xuất hiện răng phụ. Đa số các răng dư được tìm thấy trong bộ răng sữa là loại răng phụ và hiếm khi giữ nguyên vị trí mọc ngầm.

alt

Hình 7: Răng dư với dạng răng phụ ở hàm dưới

U xơ răng (Odontoma)

Howard liệt các loại u xơ răng vào loại răng dư thứ tư, nhưng cách phân loại này không được chấp nhận một cách rộng rãi. "Odontoma" là thuật ngữ đề cập đến bất kỳ khối u có nguồn gốc từ răng. Tuy nhiên, hầu hết các tác giả đều chấp nhận rằng u xơ răng tương ứng với một dị tật mô thừa (hamartomatous) chứ không phải là một khối u. Tổn thương bao gồm nhiều hơn một loại mô và vì vậy được gọi là odontoma hỗn hợp. Hai loại riêng biệt được mô tả: Các dị tật của mô răng hoàn toàn không theo quy luật, sắp xếp nào được gọi là odontoma phức hợp (Hình 8). Trong khi đó, một loại tổn thương khác là các dị tật của răng mang đặc tính cấu trúc bề mặt tương tự nhau được gọi là một odontoma đa hợp.

alt

alt

Hình 8: X-quang quanh chóp của odontoma tổng phức hợp

Hình 10: Sư tiêu xương chân răng của răng cửa giữa và bên hàm trên gây ra bởi odontome đa hợp trong hình minh họa 9

Các vấn đề liên quan tới các răng dư

Không mọc được răng

Sự hiện diện răng dư là nguyên nhân phổ biến nhất gây không mọc được răng cửa giữa hàm trên. Nó cũng có thể là nguyên nhân chậm thay răng sữa. Vấn đề thường được chú ý với việc mọc răng cửa bên hàm trên cùng với tình trạng không mọc được một hoặc cả hai răng cửa trung tâm (Hình 5 và 6). Răng dư ở các vị trí khác cũng có thể gây không mọc được các răng lân cận.

Sự chiếm chỗ

Sự hiện diện của răng dư có thể chiếm chỗ răng vĩnh viễn. Mức độ chiếm chỗ có thể từ xoay nhẹ trục răng đến chiếm chỗ hoàn toàn. Sự chiếm chỗ của răng cửa là đặc trưng phổ biến trong đa số trường hợp liên quan đến chậm mọc răng.

Răng chen chúc

Răng dư mọc ra hầu hết là gây ra tình trạng răng chen chúc. Răng cửa bên dư có thể gây ra chen chúc ở cung hàm phía trước. Vấn đề có thể được giải quyết bằng cách nhổ hầu hết các răng chiếm chỗ hoặc răng biến dạng.

Bệnh lý học

Sự hình thành nang thân răng (Dentigerous cyst ) là một vấn đề khác có thể liên quan đến các răng dư (Hình 9), Primosch báo cáo túi nang mở rộng ở 30% các trường hợp, nhưng bằng chứng mô học của sự hình thành u nang đã được tìm thấy trong chỉ 4 đến 9% của các trường hợp. Sự tiêu xương của chân răng dư liền kề có thể xảy ra nhưng nó là vô cùng hiếm (Hình 10)

alt

Hình 9: U nang liên quan đến mesiodens.

Sự ghép xương ổ răng

Răng dư có thể làm tổn thương ghép xương ổ răng ở những bệnh nhân hở môi và hàm ếch. Răng dư mọc ra thường được nhổ bỏ và vị trí lỗ phải chữa lành trước khi ghép xương. Răng dư không nên nhổ mà không tham khảo ý kiến ​​với chuyên gia về hở hàm ếch. Sự phối hợp giữa các chuyên gia nha khoa với các bác sĩ chuyên về hàm ếch là cần thiết. Răng dư mọc ngầm ở vị trí hàm ếch thường được loại bỏ tại thời điểm ghép xương.

Chuẩn bị chỗ để implant

Sự hiện diện của răng dư mọc ngầm ở vị trí chuẩn bị cấy ghép có thể làm ảnh hưởng định vị implant. Răng dư có thể cần loại bỏ trước khi cấy ghép răng. Nếu loại bỏ ở thời điểm cắm implant thì việc ghép xương là cần thiết.

Không có triệu chứng

Thỉnh thoảng, răng dư không gây ra bất kỳ triệu chứng hay ảnh hưởng nào đến sức khỏe và nó chỉ được phát hiện tình cờ khi kiểm tra X quang.

Kiểm tra bằng chụp X-quang

Khi có dấu hiệu bất thường trong lâm sàng thì cần phải chỉ định kiểm tra bằng x-quang. Tùy từng trường hợp cụ thể mà bác sĩ có thể chỉ định chụp X-quang  hoặc phim quanh chóp, phim toàn cảnh để nhìn thấy được hình ảnh chi tiết răng cửa. Nội soi răng miệng có thể cung cấp cho dấu vết sai lệch chiều sâu của răng.

Quản lý răng dư

Điều trị tùy thuộc vào loại và vị trí của răng dư và những ảnh hưởng của nó hoặc ảnh hưởng tiềm tàng trên răng lân cận. Việc quản lý răng dư nên là một phần của một kế hoạch điều trị toàn diện và không nên xem xét trong sự cô lập.

Chỉ định nhổ răng dư

Việc loại bỏ các răng dư được chỉ định khi:

  • Răng cửa giữa chậm mọc hoặc chèn ép;
  • Có dấu hiệu rõ ràng làm thay đổi mọc răng hoặc chiếm chỗ răng cửa giữa;
  • Có liên quan đến bệnh lý;
  • Hoạt động chỉnh hình răng của một răng cửa ở gần răng dư được dự kiến;
  • Sự hiện diện của răng dư sẽ ảnh hưởng đến việc ghép xương ổ răng thứ cấp ở bệnh nhân hở môi và hở hàm ếch;
  • Răng trong xương được chỉ định cấy ghép thay thế;
  • Răng dư mọc lộ ra ngoài.

Chỉ định theo dõi nếu không nhổ bỏ răng dư:

Nhổ bỏ không phải lúc nào cũng là giải pháp được chọn lựa để điều trị răng dư. Chúng có thể được theo dõi mà không cần phải nhổ bỏ trong các trường hợp sau:

  • Các răng có liên quan đã mọc đầy đủ, đúng quy luật chung;
  • Không có dự kiến điều trị chỉnh hình răng mặt;
  • Không liên quan đến bệnh lý;
  • Nhổ bỏ sẽ làm phương hại đến răng liên đới hoặc răng bên cạnh.

Lời khuyên sau khi nhổ răng dư:

Ba yếu tố ảnh hưởng đến thời gian cần thiết để răng ngầm mọc ra sau khi nhổ bỏ răng dư:

  • Loại răng dư;
  • Khoảng cách dịch chuyển răng ngầm vĩnh viễn;
  • Khoảng không gian có sẵn trong cung răng của răng ngầm.

Loại bỏ các răng dư cản trở mọc răng vĩnh viễn thường mang lại kết quả, cung cấp đủ chỗ cần thiết trên cung răng. Di Biase nhận thấy 75% răng cửa mọc lên một cách tự nhiên sau khi nhổ bỏ răng dư. Việc mọc răng xảy ra trung bình khoảng 18 tháng với điều kiện là răng cửa không quá xa vị trí và đủ chỗ cần thiết.

Nếu có đủ chỗ trên cung răng cho răng cửa mọc ngầm sau khi loại bỏ răng dư, cần đảm bảo duy trì chỗ trống cho răng bằng khí cụ tháo lắp đơn giản. Nếu không đủ chỗ, cần phải dịch chuyển răng lân cận để tạo ra không gian cho răng cửa mọc. Trong trường hợp đó, răng nanh của bộ răng sữa có thể phải được nhổ bỏ tại thời điểm nhổ răng dư. Trường hợp có đủ không gian và răng răng cửa không mọc, phẫu thuật để lộ răng cửa và chỉnh hình kéo răng thường là cần thiết

Nguồn tài liệu: Supernumerary Teeth -An Overview of Classification, Diagnosis and Management - Canadian Dental Association (CDA)

 

Leave a Comment

Chương trình khuyến mãi

Tin tức nha khoa

Kiến thức nha khoa